Án lệ 37 và câu chuyện về Hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm tài sản

Án lệ số 37/2020/AL (“Án lệ 37”) được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 05/02/2020 và được công bố theo Quyết định số 50/QĐ-CA ngày 25/02/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Nguồn của Án lệ 37: Quyết định giám đốc thẩm số 28/2018/KDTM-GĐT ngày 26/6/2018 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.Quy định của pháp luật liên quan đến nội dung Án lệ 37: Các điều 285, 287 Bộ luật Dân sự năm 2005 (tương ứng với các điều 278, 354 Bộ luật Dân sự 2015);Các điều 15, 23 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010).

Tóm tắt nội dung vụ án:

Công ty trách nhiệm hữu hạn N (“Công ty N”) là bên được bảo hiểm và Công ty bảo hiểm P1 (“Bảo hiểm P1”)  là bên bảo hiểm cùng ký kết 05 hợp đồng bảo hiểm nồi hơi và hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm công cộng như sau: HĐ số 06; HĐ số 10; HĐ số 07; HĐ số 08 và HĐ số 57.

Ngày 13/11/2015, tại Công ty N xảy ra sự cố nổ lò hơi số 3, sự cố gây ra nhiều thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm của 05 Hợp đồng bảo hiểm nêu trên. Tuy nhiên, Bảo hiểm P1 cho rằng HĐ số 06 và HĐ số 10 không có hiệu lực vì Công ty N chậm nộp tiền phí bảo hiểm (ngày cuối cùng phải đóng phí bảo hiểm là ngày 01/05/2015, nhưng đến 07/05/2015, Công ty N mới đóng phí bảo hiểm).

Nội dung án lệ:

“Sau khi nhận được tiền phí bảo hiểm của Công ty N, Tổng công ty cổ phần bảo hiểm P và Bảo hiểm P1 không có ý kiến gì và cũng không có văn bản thông báo về việc đóng tiền phí bảo hiểm chậm thì hai Hợp đồng bảo hiểm trên đã không còn hiệu lực từ ngày 01/5/2015, mà Bảo hiểm P1 vẫn nhận, xuất hóa đơn giá trị gia tăng và báo cáo thuế về hai khoản tiền đóng bảo hiểm này của Công ty N, nên mặc nhiên Tổng công ty cổ phần bảo hiểm P và Bảo hiểm P1 thừa nhận việc đóng tiền phí bảo hiểm chậm của Công ty N và thừa nhận hai hợp đồng bảo hiểm trên có hiệu lực thi hành.

Do đó, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, Tổng công ty cổ phần bảo hiểm P phải có trách nhiệm bồi thường theo Hợp đồng giữa hai bên đã ký kết.”

Phân tích nội dung án lệ:

Khoản 2 Điều 23 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010) (“Luật KDBH”) quy định hợp đồng bảo hiểm chấm dứt trong trường hợp bên mua bảo hiểm không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Trong nội dung Án lệ 37, mặc dù Tòa án không viện dẫn cụ thể điều luật áp dụng làm căn cứ cho nhận định về việc công nhận hiệu lực các hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, có thể thấy Tòa án đã áp dụng khoản 3 Điều 15 Luật KDBH để xác định trách nhiệm bảo hiểm của Bảo hiểm P1, theo đó, trách nhiệm bảo hiểm của Bảo hiểm B1 không bị loại trừ do việc Công ty N đóng phí bảo hiểm chậm.

Mặc dù việc Công ty N đóng phí bảo hiểm vào ngày 07/5/2015 là chậm so với hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, việc Bảo hiểm P1 vẫn nhận phí bảo hiểm, xuất hóa đơn và kê khai thuế cho thấy, Bảo hiểm P1 đã chấp nhận việc đóng phí bảo hiểm chậm của Công ty N và đây được xem là trường hợp “các bên có thỏa thuận khác” theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Luật KDBH. Điều này có nghĩa là, kể từ thời điểm Bảo hiểm P1 chấp nhận phí bảo hiểm, hiệu lực của Hợp đồng bảo hiểm được khôi phục trở lại. Do đó, khi sự kiện bảo hiểm xảy ra (sau thời điểm Công ty N đóng phí bảo hiểm), Bảo hiểm P1 vẫn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo thỏa thuận tại các hợp đồng bảo hiểm.

Bình luận về nội dung Án lệ 37

Người ta vẫn hay ví von, bảo hiểm tài sản là “mua bán rủi ro”. Theo đó, đối tượng được các bên chuyên giao trong hợp đồng bảo hiểm tài sản là các “rủi ro” đối với tài sản được bảo hiểm. Theo đó, Bên mua bảo hiểm (“BMBH”) “bán rủi ro” đối với tài sản của mình cho doanh nghiệp bảo hiểm (“DNBH”), DNBH “mua rủi ro” đối với tài sản được bảo hiểm, với “giá mua bán” là phí bảo hiểm. Do đó, trong các hợp đồng bảo hiểm, việc BMBH đã đóng phí bảo hiểm hay chưa là điều kiện tiên quyết để xác định hiệu lực của hợp đồng bảo hiểm và xác định chủ thể phải chịu rủi ro đối với tài sản.

Để bảo vệ cho DNBH, Luật KDBH quy định DNBH sẽ không phải chịu rủi ro đối với tài sản được bảo hiểm chừng nào mà BMBH chưa đóng phí bảo hiểm (trừ trường hợp có thỏa thuận về nợ phí bảo hiểm). Như vậy, việc chấm dứt hiệu lực hợp đồng bảo hiểm tại thời điểm BMBH chậm đóng phí bảo hiểm được xem là quyền của DNBH. Tuy nhiên, trong đa số các trường hợp, trừ khi điều kiện bảo hiểm đã thay đổi, DNBH sẽ không thực hiện quyền này, thay vào đó DNBH vẫn sẽ nhận phí bảo hiểm và nhận rủi ro đối với tài sản thay cho BMBH, miễn là tại thời điểm đó sự kiện bảo hiểm chưa xảy ra. Bởi vì xét cho cùng, phí bảo hiểm chính là mục đích của DNBH khi tham gia vào hợp đồng bảo hiểm.

Trên thực tế, các trường hợp tương tự vụ việc này khá phổ biến. Trong đa số các trường hợp, DNBH sẽ chấp nhận bồi thường khi mà họ đã nhận phí bảo hiểm. Tuy nhiên, trong trường hợp thiệt hại quá lớn, việc trốn tránh trách nhiệm bồi thường như Bảo hiểm P1 trong vụ việc này cũng không hề hiếm. Án lệ 37 đã nêu ra giải pháp pháp lý rõ ràng, có căn cứ và phù hợp để giải quyết các trường hợp tương tự, giúp cho quyền lợi của BMBH được bảo vệ, các DNBH có căn cứ để thực hiện việc bồi thường (đôi khi các DNBH trốn tránh thực hiện nghĩa vụ bồi thường, bởi vì nếu bồi thường một cách thiếu căn cứ, DNBH sẽ không được các doanh nghiệp đồng, tái bảo hiểm chia sẻ rủi ro, đôi khi thiệt hại phải bồi thường là quá lớn và tài chính của một mình DNBH không đủ thực hiện việc bồi thường).

Nội dung Án lệ số 37 phù hợp với bản chất của bảo hiểm tài sản, góp phần giải quyết nhiều tranh chấp tương tự.

Luật sư Dương Thị Cẩm Chơn (Thiên An)