Áp dụng luật phá sản để tiến hành thu hồi công nợ liệu có khả thi?

Hoạt động thu hồi công nợ là một trong những vấn đề mà các doanh nghiệp chú trọng nhằm đảm bảo nguồn vốn để phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh. Hiện nay, có nhiều phương thức thu hồi công nợ được các doanh nghiệp áp dụng như thương lượng ôn hòa hoặc khởi kiện tại tòa án/trọng tài để yêu cầu trả nợ. Thực tiễn cho thấy trong công tác hỗ trợ thu hồi công nợ, ngoài những cách trên, chủ nợ có thể nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền mở thủ tục phá sản đối với bên mất khả năng thanh toán (“bên nợ”) để đem lại hiệu quả cao hơn. 

Theo Luật phá sản 2014 (Điều 4.3), chủ nợ có thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức; và chủ nợ bao gồm chủ nợ không có bảo đảm, có bảo đảm một phần hoặc có bảo đảm. Luật phá sản 2014 (Điều 5.1) cho phép chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tại cơ quan Tòa án có thẩm quyền. Thời điểm nộp đơn yêu cầu là sau 03 (ba) tháng, kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà bên nợ không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, bất kể số tiền nợ là bao nhiêu.

Thực tế, giải pháp yêu cầu mở thủ tục phá sản là nhằm tạo sức ép mạnh mẽ thúc đẩy bên nợ trả tiền. Và Luật phá sản 2014 đã tạo hành lang pháp lý khá cụ thể cho việc thực hiện giải pháp này. Khi cân nhắc áp dụng giải pháp này, chủ nợ cần thu thập các thông tin liên quan đến tình hình hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như tiềm năng trả nợ của bên nợ. Đây được xem là một phương pháp hiệu quả trong việc thu hồi công nợ, nếu bên nợ không phải vì suy kiệt khả năng thanh toán nợ, mà cố tình trì hoãn, “chây ì” dẫn đến việc chiếm dụng vốn của chủ nợ.

Tại sao phương pháp này lại đem đến hiệu quả và tạo được sức ép với bên nợ? Luật phá sản 2014 có quy định khi chủ nợ yêu cầu, bên nợ nhận quyết định mở thủ tục phá sản do Tòa án ban hành. Kể từ khi đó, bên nợ đối diện với quy trình giải quyết vụ việc phá sản. Điều này đồng nghĩa với việc hoạt động kinh doanh của họ phải chịu sự giám sát của Thẩm phán và Quản tài viên. Đáng chú ý hơn, người đại diện theo pháp luật của bên nợ có thể bị thay đổi nếu xét thấy không có khả năng điều hành và có dấu hiệu vi phạm luật (Điều 47 của Luật phá sản 2014). Ngoài ra, sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản, nhiều hoạt động của bên nợ bị cấm như cất giấu, tẩu tán, tặng cho tài sản, thanh toán nợ không có bảo đảm hay từ bỏ quyền đòi nợ. Họ sẽ bị đặt trong tình trạng pháp lý phá sản và các khoản nợ sẽ được coi là cùng đến hạn phải thanh toán. Đó là chưa kể đến hậu quả pháp lý nặng nề nhất là bên nợ bị tuyên bố phá sản bằng quyết định của tòa án dẫn đến việc phải chấm dứt hoạt động kinh doanh hoàn toàn.

Liệu một doanh nghiệp đang tiếp tục hoạt động sản xuất, kinh doanh có muốn bị rơi vào phá sản hay không? Chắc chắn là không! Đứng trước sức ép phải lựa chọn trả nợ hoặc đối mặt với tiến trình và hậu quả pháp lý của việc mở thủ tục phá sản, bên nợ buộc phải đưa ra quyết định. Nếu thực sự bên nợ vẫn còn khả năng thì họ sẽ phải quyết định thực hiện thanh toán nợ cho chủ nợ để tránh các rắc rối pháp lý và chi phí không đáng có đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.

Khi bên nợ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, điều đó cho thấy mục đích yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ được xem là đạt được. Việc còn lại của chủ nợ đơn giản là xin rút lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ Tòa án. Có thể thấy, áp dụng linh hoạt Luật phá sản 2014 để thu hồi công nợ là một giải pháp hữu hiệu hợp pháp và mang lại kết quả nhanh chóng.

Luật sư Hồ Thị Trâm (Thiên An)