Bình luận Án lệ 03/2016/AL: Bố mẹ chồng cho đất, con dâu có được phần?

Thực tế hiện nay toà án còn gặp nhiều khó khăn trong việc phân định tài sản chung và riêng khi chia tài sản vợ chồng ly hôn. Nguyên nhân chủ yếu do hoạt động này ngoài các giấy tờ chứng minh còn phụ thuộc nhiều vào lời khai của các bên. Án lệ 03/2016/AL ra đời như một định hướng cho các toà trong việc xác định tài sản chung khi cha mẹ chồng/vợ “cho” con quyền sử dụng đất.

Nguồn cơn bắt đầu khi cha mẹ chồng cho vợ chồng người con sử dụng đất làm nhà nhưng không có giấy tờ. Cha mẹ chồng yêu cầu lấy lại mảnh đất với lý do chưa cho vợ chồng người con (chứ không phải cho riêng con trai mà không cho con dâu).  Tuy vậy, Thẩm phán cân nhắc có ba yếu tố pháp lý sau. Thứ nhất, hai vợ chồng đã xây nhà kiên cố trên đất. Việc đầu tư tiền bạc, công sức xây dựng căn nhà ba tầng khang trang đã thể hiện vợ chồng người con có ý định sinh sống lâu dài ở đây. Thứ hai, cả vợ chồng đã ở công khai liên tục nhiều năm nhưng gia đình chồng không có bất kì phản đối hay tranh chấp nào khác. Nếu nhà chồng không đồng ý cho đất thì liệu có “bình chân như vại” khi căn nhà kiên cố được dựng lên trong vòng những l6 năm? Thứ ba, người chồng đã tiến hành đăng ký, kê khai và được cấp sổ đỏ đứng tên hộ gia đình, thể hiện vợ chồng đều có quyền sử dụng với mảnh đất. Tòa cho rằng việc cha mẹ chồng khai không biết vì con trai tự ý đăng ký là vô lý bởi, với tư cách chủ đất và sống gắn bó với làng xóm, họ phải biết việc mà láng giềng đều hay biết và có trách nhiệm đối với tài sản. Từ đó, Án lệ 03 nhận định cha mẹ chồng đã cho vợ chồng người con mảnh đất làm tài sản chung trong thời kì hôn nhân của họ.

Tuy nhiên, việc phân chia tài sản chung khi ly hôn phải căn cứ theo công sức đóng góp và nhu cầu về chỗ ở của mỗi bên, phù hợp với Luật Hôn nhân và gia đình: ghi nhận quy tắc chia đôi tài sản chung khi ly hôn (phù hợp với nguyên tắc vợ chồng bình đẳng trong hôn nhân) nhưng cần xét đến những yếu tố khác. Trên thực tế, quan niệm “một giọt máu đào hơn ao nước lã” đã ăn sâu trong tâm thức phổ biến của nhiều gia đình ở Việt Nam, nhất là ở nông thôn Bắc Bộ nơi các đương sự sinh sống. Vì vậy, khi cho tài sản (đặc biệt là đất), cha mẹ thường cho riêng con ruột chứ không cho dâu, rể. Tùy thuộc quyền định đoạt của chủ đất, đây không phải là hủ tục cần bị bài trừ hay xoá bỏ.

Trong Án lệ 03, Thẩm phán quyết định phải xem người chồng có công sức đóng góp nhiều hơn, từ đó được hưởng phần đất lớn hơn. Như vậy, Án lệ 03 nhìn chung có cân nhắc đến nguồn gốc đất (được cha mẹ chồng cho) để xác định sự đóng góp của người chồng. Đây là hướng giải quyết phần nào hợp lý, nhưng chưa thật toàn diện. Vì đất do cha mẹ chồng cho, không phải do họ tự bỏ công bỏ sức mà có. Cho nên, việc người chồng muốn “nại” lý do tự ý đăng ký để không mất đất từ cha mẹ vào “tay” người vợ là có thể hiểu được. Chỉ có điều, những căn cứ mà nhà chồng đưa ra không thuyết phục. Nhưng xét về lẽ công bằng, Toà án nên xét đến hoàn cảnh của người vợ để xác định liệu người vợ có thật sự cần đất từ nhà chồng để sinh sống hay không. Nếu người vợ có tài chính và nhà cửa ổn định thì chỉ nên chia giá trị căn nhà – tài sản chung mà người vợ thật sự bỏ công sức đóng góp – mới thật sự hợp lý.

Án lệ 03 cho thấy các bên cần lưu tâm đến bằng chứng xác định tài sản chung giữa vợ chồng và tặng cho tài sản giữa cha mẹ và con cái đã lập gia đình, nhằm bảo vệ quyền tài sản hợp pháp của mình, tốt nhất bằng những thỏa thuận lập thành văn bản rõ ràng. Điều đó sẽ giúp tránh những rắc rối đầy khó khan và lúng túng phát sinh không cần thiết nếu phải đem nhau ra toà mà “mất cả chì lẫn chài”.