Cái giá của nút “share”

Mạng xã hội (MXH) đã thành ma trận thông tin được chia sẻ ở tốc độ cực khủng, trong đó không thiếu hoa thơm lẫn rác rưởi. Lãng phí thời gian tiếp xúc thông tin sai sự thật, người dùng MXH còn có thể phải gánh chịu hậu quả pháp lý nặng nề nếu “tiện tay” chia sẻ tin vịt chưa được kiểm chứng.

Không khó để điểm mặt những lần MXH dậy sóng trước tốc độ lan truyền chóng mặt từ những nút “share” vô thưởng vô phạt thông tin được làm rõ là “fakenews” sau đó. Gần đây, một “blogger” có tiếng loan tin cô Thu Hương, Á hậu cuộc thi Hoa hậu Quý bà Thế giới năm 2011, môi giới mại dâm cho đại gia. Tung ra đúng lúc chính quyền triệt phá đường dây bán dâm của một nam người mẫu, điều này càng khiến dư luận đổ dồn chú ý. Thu Hương ngay lập tức tuyên bố khởi kiện, nhưng động thái pháp lý này không hướng vào blogger Người Buôn Gió – người tự giới thiệu đang cư trú ở Đức – mà là những ai chia sẻ bài viết trên.

Vấn đề trước hết cần bàn đến khi xử lý nạn tin giả tràn lan là cách xác định tin giả. Pháp luật chưa có định nghĩa chính thức về “tin giả”, vốn là khái niệm phần nào mang tính quy chụp và dễ gây nhiễu, nhất là trong bối cảnh khủng hoảng thông tin. Trong nghiên cứu thông tin và truyền thông, khái niệm “tin giả” được xác định thông qua hai định nghĩa chính: “thông tin sai lệch” (misinformation) và “thông tin dắt mũi” (disinformation). Trong đó, thông tin dắt mũi là thông tin cố ý sai lệch nhằm đánh lừa đối tượng tiếp nhận. Còn thông tin sai lệch do lỗi sai, tắc trách hoặc định kiến vô thức của người đưa tin. Thông tin dắt mũi cũng vậy, nhưng điểm khác nhau mấu chốt là nó xuất phát từ sự lừa lọc có chú ý.

BLDS 2015 tuyên bố cá nhân bị thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể khởi kiện yêu cầu người xâm phạm bồi thường. Chứng cứ đóng vai trò then chốt trong quá trình chứng minh thiệt hại bởi hành vi xâm phạm. Vì vậy, giống như Á hậu Thu Hương, nạn nhân nên tìm đến Thừa phát lại yêu cầu lập vi bằng để xác nhận sự tồn tại của hành vi lan truyền tin giả và tình trạng thiệt hại thực tế, phục vụ quá trình chứng minh.

Dẫu vậy, việc khởi kiện như thế hiếm khi xảy ra và “được vạ thì má đã sưng”. Bởi lẽ:

Thứ nhất, xác định người gây thiệt hại không dễ dàng, mà nghĩa vụ cung cấp thông tin bị đơn thuộc về nguyên đơn để có thể đề nghị toà án thụ lý vụ án. Người ta thường chia sẻ tin giả dày đặc, thậm chí lên đến vài chục ngàn lượt,  nên tìm kiếm thông tin địa chỉ hoặc nơi làm việc của “hằng hà sa số” chủ nhân những nút “share” ấy không khác gì “nhiệm vụ bất khả thi”.

Thứ hai, chứng minh thiệt hại chẳng hạn tổn thất tinh thần hay giảm sút thu nhập thực tế cũng là bài toán khó. Trong khi đó, pháp luật tỏ ra quá bao dung khi ấn định mức bồi thường duy nhất cụ thể khá hẹp hòi và dường như chưa tương xứng với thiệt hại nạn nhân phải gánh chịu trong nhiều vụ việc (10 tháng lương cơ sở đối với tổn thất về tinh thần – khoảng 14.900.000 VNĐ năm 2020 – theo Điều 592 BLDS 2015).

Thứ ba, trách nhiệm bồi thường sẽ được xác định bằng cách đếm “đầu người”, chia đều số tiền bồi thường rồi khởi kiện độc lập từng cá nhân (điều gần như bất khả thi!) hay liên đới?

Chống tin giả là cuộc chiến dài hơi và càng lúc càng phức tạp bởi sự phát triển của MXH. Không chỉ ở Việt Nam, nhiều quốc gia cùng chung chính sách buộc các MXH và người dùng chịu trách nhiệm về phát ngôn thông tin sai lệch. Chính sách sàng lọc thông tin của Facebook hay dán nhãn cảnh báo của Twitter là những trái ngọt đầu tiên. Có điều, công nghệ số phát triển nhanh như chớp mắt, nạn tin giả thao túng với tốc độ chóng mặt, còn giải pháp chủ yếu vẫn “lấy ngắn nuôi dài” và kém toàn diện.

Vụ kiện tiềm tàng từ Á hậu Thu Hương cho thấy một khía cạnh khác cần giải quyết: truyền bá tin giả cũng gây thương tổn không kém việc phát ngôn. Tuy nhiên, pháp luật chưa trao cho nạn nhân tấm khiên bảo vệ và mũi kiếm tự vệ thỏa đáng, như phân tích ở trên. Do đó, một tầm nhìn mới là điều cần thiết. 

Như đã đề cập ở trên, việc không thể “truy” tất cả chủ nhân nút “share” để xử lý, chúng ta nên tập trung trước hết và trên hết những dạng chia sẻ có quyền năng lan tỏa mãnh liệt hơn cả. Vì vậy, sẽ khả thi và đích đáng hơn nếu chỉ đặt đích ngắm ở những KOLs (Key Opinion Leader) trên MXH chia sẻ thông tin giả mạo. Điểm chung của của họ là danh tiếng được biết đến rộng rãi nhờ lượng “followers” hùng hậu, từ đó có khả năng thu hút, dẫn dắt và định hướng dư luận. Sức ảnh hưởng lan truyền tin giả bởi người nổi tiếng đáng kể hơn so với những người khác và trong nhiều trường hợp, họ là thủ phạm chính gây thiệt hại cho nạn nhân.

Chính vì vậy, pháp luật cần bổ sung chế tài riêng về trách nhiệm bồi thường của đối tượng này. Để xác định người “share” tin là KOLs, cần xác định mức độ ảnh hưởng của cá nhân đó (thể hiện qua số lượng theo dõi, lượt tương tác, mức độ xuất hiện trên phương tiện truyền thông, lĩnh vực hoạt động,…) để đưa ra được hình thức và mức xử phạt tương xứng. Trước cái giá phải trả quá đắt và riêng biệt, những KOLs tất yếu không mạnh tay nhấn chia sẻ một cách “vô tội vạ” đồng thời tự ý thức cao hơn về trách nhiệm kiểm chứng thông tin một cách có đầu tư và chiều sâu. Điều đó góp phần hạn chế đáng kể sự lan truyền và phổ biến thông tin sai sự thật, tối thiểu hóa thiệt hại mà nạn nhân phải gánh chịu.

Tin giả, gắn với bản chất con người, sẽ không bao giờ biến mất. Tuy nhiên, nó hoàn toàn không phải địch thủ không thể đánh bại. Pháp luật cần mạnh tay mà “đánh trúng” vào đúng bản chất của tin giả, thay vì những quy định chung chung và bất khả thi như hiện nay, qua đó mới có thể phần nào “chống chọi” nạn tin giả tràn lan khó kiểm soát.