“Mạnh thường quân” cho việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại

Hiện nay, 40% doanh nghiệp FDI tại Việt Nam lựa chọn trọng tài thương mại để giải quyết tranh chấp thay vì Toà án (theo số liệu VIAC). Thật dễ hiểu vì thủ tục trọng tài thường nhanh gọn, linh hoạt và đặc biệt bảo mật thông tin – yếu tố rất được quan tâm bởi có thể ảnh hưởng đến uy tín và danh tiếng. Tuy nhiên, chi phí khởi kiện cao cùng những khoản “râu ria” khiến vụ kiện có thể trở nên rất đắt đỏ. Khi đó, những doanh nghiệp có khả năng tài chính hạn chế tất yếu sẽ dè dặt khi khởi kiện. Lúc này, nếu có nguồn tài trợ từ bên thứ ba thì nó sẽ giúp tạo cơ hội cho doanh nghiệp theo đuổi thủ tục tố tụng ở trọng tài.

“Tài trợ trọng tài” không mới, thậm chí còn khá quen thuộc ở các nước phát triển như Mỹ, Thuỵ Điển, Pháp,… Singapore, Hồng Kông những năm gần đây cũng đã ban hành luật cho phép tự do thực hiện hoạt động này. Tài trợ trọng tài, hiểu đơn giản, là nguồn hỗ trợ từ bên thứ ba mà doanh nghiệp có thể tìm đến khi không đủ khả năng tài chính tham gia vụ kiện ở trọng tài. Nhà tài trợ có thể đồng ý toàn bộ hoặc một phần chi phí. Sau đó, tuỳ theo thoả thuận mà khoản tiền thắng kiện giành được sẽ được trích (thường theo tỷ lệ phần trăm) cho nhà tài trợ, xem như lợi nhuận đầu tư. Trong trường hợp thua kiện, nhà tài trợ coi như “lỗ vốn” và không được thanh toán. Như vậy, dù rủi ro, nhưng nếu có niềm tin “chắc ăn” vào khả năng thắng của bên xin tài trợ thì đây giống như khoản đầu tư mang lại nguồn lợi lớn.

Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại

Lợi ích từ tài trợ trọng tài là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, thực tế được áp dụng tại các nước cho thấy những bất cập còn tồn tại.

Thứ nhất, nhà tài trợ có quyền được cung cấp thông tin về vụ kiện hay không? Việc này dường như trái với nguyên tắc bảo mật thông tin – vốn được xem là “linh hồn” của thủ tục trọng tài. Để giải quyết vấn đề này, cần xác định rõ các đối tượng bị ràng buộc bởi điều khoản bảo mật và pháp luật áp dụng. Ngoài ra, những trường hợp miễn trừ quy định bảo mật cũng cần được chú ý trong quá trình các bên thoả thuận chọn lựa phương thức trọng tài.

Thứ hai, nếu có căn cứ cho rằng vụ kiện không khách quan thì tài trợ có được chấp nhận hay không? Giả sử bên tài trợ là người thân thích với trọng tài viên hoặc có trọng tài viên là thành viên của công ty tài trợ, như vậy kết quả thắng kiện đem lại lợi ích riêng cho họ. Thoả thuận tài trợ trong trường hợp này khả năng cao dẫn đến tình trạng xung đột lợi ích “vừa đá bóng vừa thổi còi”. Để hạn chế nguy cơ này, hội đồng trọng tài cần yêu cầu các bên công khai thoả thuận tài trợ. Luật cũng cần xác định những trường hợp phải thay đổi trọng tài viên khi có xung đột lợi ích.

Bên cạnh đó, những vấn đề khác như: chủ thể sẽ giám sát hoạt động tài trợ trọng tài, hay cách xử lý nếu nhà tài trợ lại đột nhiên “bốc hơi” hoặc từ chối bồi thường cho bị đơn lúc thua kiện? Những rủi ro tiềm ẩn ấy cần phải được xem xét và có hóa giải phù hợp để bảo đảm sự lành mạnh của tố tụng trọng tài cũng như bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại.

Tại Việt Nam, tài trợ trọng tài là khái niệm còn xa lạ, dù số vụ xét xử bằng trọng tài nhảy vọt trong những năm gần đây. Xu thế lựa chọn trọng tài quốc tế đang tăng trưởng mạnh, đặc biệt đối với những doanh nghiệp đa quốc gia. Với nhu cầu hội nhập thế giới, cùng sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất và thương mại, Việt Nam tất yếu cần khuyến khích, mở rộng và cải thiện hơn nữa hoạt động giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài, bằng việc chấp nhận tài trợ trọng tài.

Tài trợ trọng tài có thể giúp phổ biến lựa chọn phương thức trọng tài, đẩy nhanh quá trình tố tụng, tránh tình trạnh tranh chấp dai dẳng và âm ỉ do không đủ nguồn lực kiện tụng. Việt Nam hiện không có quy định cấm tài trợ trọng tài, nên có thể suy luận nhà đầu tư được tự do thực hiện những ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Tuy nhiên, ngành, nghề kinh doanh hoàn toàn mới như vậy cần thiết và tốt hơn nên có quy định rõ ràng.

Khung pháp lý phù hợp cho tài trợ trọng tài trong tương lai cần tập trung giải quyết hai vấn đề cơ bản.

Thứ nhất là vấn đề xung đột lợi ích từ tài trợ dẫn đến xét xử không khách quan và vô tư. Cần có quy định buộc công khai thoả thuận tài trợ cũng như danh tính nhà tài trợ và thay đổi trọng tài viên trong trường hợp xung đột lợi ích từ tài trợ.

Thứ hai, nên xây dựng các nguyên tắc căn bản của hoạt động tài trợ trọng tài thay vì các quy định quá chi tiết, cụ thể. Bởi các vụ kiện muôn hình vạn trạng, dự trù tất cả là điều gần như không thể; ngoài ra, tôn trọng sự tự do, linh hoạt cho các bên tham gia trọng tài là nguyên tắc căn bản trong đời sống kinh tế nhằm thúc đẩy giao lưu thương mại. Sự trống vắng của luật thành văn rườm rà cần được bổ cứu bằng vai trò quan trọng của hội đồng trọng tài và các bộ quy tắc quốc tế.

Hội đồng trọng tài, với chuyên môn cao và sự khách quan vô tư, nên có quyền đặt ra các quy tắc cụ thể xử lý vấn đề phát sinh trong quá trình xét xử từ thỏa thuận tài trợ (tuương tự trọng tài ad hoc theo vụ việc). Bên cạnh đó, cũng cần học hỏi các nguyên tắc quốc tế (international guidelines) về tài trợ trọng tài thường không mang tính ràng buộc, đề cao thoả thuận linh hoạt giữa các bên, giúp hoạt động tài trợ trở nên dễ dàng hơn.

Như vậy, có thể thấy tài trợ trọng tài là hoạt động rất hiệu quả hỗ trợ tài chính các bên theo đuổi vụ kiện, hóa giải nỗi lo “cơm áo gạo tiền ghì sát đất” đối với doanh nghiệp trên con đường bảo vệ quyền lợi và kiếm tìm công lý trong tranh chấp. Tuy nhiên, “hiện thực hoá” hoạt động này ở Việt Nam cần xây dựng được hành lang pháp lý phù hợp, nhặt sở trường bỏ sở đoản của nó nhằm thúc đẩy hoạt động trọng tài ngày càng phát triển lành mạnh và đúng hướng.

Chuyên Phạm (Thiên An)