Thương mại điện tử xuyên biên giới – siết chặt “vòng kim cô” thu thuế

Thương mại điện tử xuyên biên giới rơi vào “tầm ngắm” của cơ quan thuế là điều dễ hiểu, bởi mức độ phổ biến và tính chất sôi động của hoạt động này trong thời đại số. Theo đó, Luật Quản lý thuế 2019 và Nghị định 126/2020/NĐ-CP có hiệu lực gần đây đã lần đầu tiên đặt ra nhiều nghĩa vụ thuế đối với các bên tham gia việc cung ứng, mua bán hàng hóa, dịch vụ trực tuyến giữa Việt Nam và nước ngoài.

Tiếp tục làm rõ định hướng trên, Bộ Tài chính đã soạn thảo và đang lấy ý kiến người dân, doanh nghiệp từ đầu tháng 3/2021 về dự thảo Thông tư hướng dẫn Luật Quản lý thuế 2019 trước khi chính thức ban hành, với nhiều điểm đáng chú ý liên quan nghĩa vụ thuế trong thương mại điện tử qua biên giới.

Có thể khai thuế, nộp thuế bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi

Bên cạnh khai thác dầu khí, xuất nhập khẩu và các khoản thu bởi cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, dự thảo đề xuất đưa thương mại điện tử xuyên biên giới vào danh sách các trường hợp được thực hiện nghĩa vụ thuế bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi. Điều này mở đường cho nhà cung cấp nước ngoài lựa chọn đồng tiền khai, nộp thuế phù hợp và thuận tiện nhất với họ.

Tuy nhiên, sự đa dạng đồng tiền cũng đòi hỏi công thức chung để tính toán giá trị khoản thuế. Do đó, dự thảo dự kiến thực hiện quy đổi theo tỷ giá mua vào do ngân hàng nơi giao dịch hoặc nộp thuế công bố; nếu không công bố thì áp dụng tỷ giá mua vào của Vietcombank.

Làm rõ thủ tục thuế của nhà cung cấp nước ngoài

Theo dự thảo, nhà cung cấp nước ngoài đăng ký giao dịch thuế điện tử và đăng ký thuế lần đầu hoàn toàn trực tuyến trên Cổng thông tin điện tử của Tổng cục Thuế để nhận mã số thuế gồm 10 số. Trong đó, tài khoản ngân hàng và địa chỉ thư điện tử là những thông tin cần đăng ký để phục vụ nộp thuế cũng như liên hệ với cơ quan nhà nước. 

Mặt khác, nhà cung cấp có thể ủy quyền cho đại lý thuế tại Việt Nam thực hiện thay các thủ tục thuế. Có thể thấy, do đặc điểm là người nộp thuế không có hiện diện ở Việt Nam, nhà cung cấp được giới chức tạo mọi điều kiện để thực hiện nghĩa vụ của mình thuận tiện và đơn giản nhất.

Các thông tin xác định doanh thu chịu thuế

Cũng theo dự thảo, (1) thông tin thanh toán (thẻ tín dụng, tài khoản ngân hàng hoặc phương thức tương tự), (2) thông tin cư trú (địa chỉ giao hàng, địa chỉ nhà hoặc địa chỉ tương tự) và (3) thông tin truy cập (thẻ SIM, mã IP, đường dây điện thoại bàn hoặc thông tin tương tự) của người mua tại Việt Nam là 03 căn cứ xác định doanh thu để kê khai, tính thuế. Theo đó, bất kỳ giao dịch nào thỏa mãn ít nhất 02 thông tin nêu trên đều nằm trong vòng tròn thu thuế của Việt Nam.

Như vậy, nếu người mua thanh toán giao dịch và cư trú (hay truy cập) tại Việt Nam, hoặc nếu người mua cư trú và truy cập tại Việt Nam, thì nhà cung cấp phải kê khai, nộp thuế đối với doanh thu phát sinh. 

Doanh nghiệp phải khấu trừ, nộp thuế thay nhà cung cấp ở nước ngoài trốn thuế

Nhà làm luật cũng dự trù trong dự thảo cách xử lý đối với trường hợp nhà cung cấp hoàn toàn trốn tránh nghĩa vụ thuế. Cụ thể, khi đó, trách nhiệm khấu trừ, nộp thuế thay cho nhà cung cấp sẽ rơi vào chính doanh nghiệp mua hàng, hoặc ngân hàng, bên trung gian thanh toán (nếu người mua là cá nhân).

Nếu quy định trên có hiệu lực, trước khi mua hàng, doanh nghiệp cần yêu cầu nhà cung cấp làm rõ đã đăng ký, khai, nộp thuế với Việt Nam hay chưa. Điều này giúp doanh nghiệp xác định đúng nghĩa vụ của mình và giá trị giao dịch phù hợp, đảm bảo quyền lợi chính đáng và tuân thủ pháp luật.