Tòa dân sự: 4 cấp tổ chức và 3 nguyên tắc xác định thẩm quyền xét xử dân sự

Hiến pháp Việt Nam đã long trọng tuyên bố Tòa án nhân dân (TAND) là cơ quan xét xử của nước Việt Nam, với những sứ mệnh hàng đầu là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Tòa án, bởi thế, nằm ở trái tim của công cuộc áp dụng và đảm bảo áp dụng pháp luật vì công lý và con người.

Hệ thống bốn cấp

Hệ thống cơ quan tư pháp là TAND tại Việt Nam được tổ chức thành 4 cấp từ cao xuống thấp: Tòa án tối cao, Tòa án cấp cao, Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp huyện.

Tòa án cấp huyện là cấp xét xử sơ thẩm hầu hết vụ việc dân sự và hình sự. Những vụ vượt quá thẩm quyền sẽ được đôn lên Tòa án cấp tỉnh – nơi chủ yếu xét xử phúc thẩm các bản án của cấp huyện, bên cạnh xử sơ thẩm một số loại vụ việc đặc thù mà nhà làm luật quy định. Cũng xét xử phúc thẩm đối với bản án của cấp tỉnh và có thẩm quyền xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với phán quyết đã có hiệu lực pháp luật của các tòa cấp dưới là thẩm quyền của Tòa án cấp cao. Còn Tòa án tối cao là cấp xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm cao nhất đối với mọi bản án, có vai trò chủ yếu là tổng kết kinh nghiệm xét xử và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật.

Và ba nguyên tắc xác định thẩm quyền

Cách thức tổ chức như trên xác định thẩm quyền xét xử dân sự của tòa án theo ba nguyên tắc: thẩm quyền theo cấp, thẩm quyền theo vụ việc và thẩm quyền theo lãnh thổ (cần lưu ý rằng, xác định thẩm quyền ở đây chỉ là sơ thẩm, còn cấp phúc thẩm như trên đã nói).

Nguyên tắc thứ nhất và thứ hai được quy định tại Điều 35 và Điều 37 BLTTDS 2015, dựa trên tính chất phức tạp của từng loại vụ việc. Theo đó, thẩm quyền của Tòa cấp huyện là phần lớn tranh chấp và yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động,… Tòa cấp tỉnh có thẩm quyền được xác định bằng phương pháp loại trừ, nghĩa là giải quyết các tranh chấp và yêu cầu không thuộc thẩm quyền của Tòa cấp huyện: hầu hết tranh chấp và yêu cầu về kinh doanh, thương mại, các vụ việc có yếu tố nước ngoài (chẳng hạn công nhận và thi hành bản án nước ngoài, cần ủy thác tư pháp hoặc đương sự ở nước ngoài, etc).

Thẩm quyền hai tòa được phân định rõ ràng, tránh tình trạng vượt cấp hay thụ lý nhầm. Các chủ thể khởi kiện cần nắm rõ những quy định này để xác định tranh chấp của mình là gì, thuộc thẩm quyền tòa nào để gửi đơn khởi kiện đến đúng địa chỉ, nhằm tiết kiệm thời gian, công sức đi kiện.

Nguyên tắc thứ hai quy định tại Điều 39 và Điều 40 BLTTDS. Thẩm quyền theo lãnh thổ được xác định thuộc về Tòa sơ thẩm nơi cư trú, làm việc hoặc đặt trụ sở của người bị kiện/bị đơn. Ngoại lệ, Tòa nơi có bất động sản sẽ giải quyết tranh chấp về bất động sản đó (đây cũng là một thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam), các bên trong vụ việc cũng có thể thỏa thuận Tòa sơ thẩm về phía nguyên đơn xét xử và nhiều trường hợp đặc thù khác.

Đặc biệt, Điều 40 mang đến giải pháp phù hợp với thực tiễn, trao quyền cho người khởi kiện lựa chọn Tòa án nếu không biết nơi cư trú, làm việc hay trụ sở của bị đơn, hoặc trong tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng…

Nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác, Tòa nhận đơn sẽ trả lại đơn khởi kiện. Nếu gửi đơn sai Tòa có thẩm quyền theo cấp hay lãnh thổ thì đơn sẽ phải chuyển sang đúng Tòa có thẩm quyền. Để tránh mất thời gian, công sức, người khởi kiện phải chú ý vấn đề này để đảm bảo đơn được thụ lý nhanh chóng. Các nguyên tắc này dựa trên Hiến pháp, theo đó yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được ghi nhận tại Điều 4 BLTTDS. Đáng chú ý, Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng. Điều này bảo đảm quyền tiếp cận công lý, một quyền con người cơ bản của người dân.