Tranh chấp lao động rủi ro tiềm ẩn khi cho người lao động thôi việc do Covid-19

Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhiều doanh nghiệp đã phải đóng cửa hoặc buộc phải thu hẹp hoạt động sản xuất kinh doanh. Đồng nghĩa với việc nhiều lao động sẽ bị cho thôi việc. Vậy doanh nghiệp cho người lao động thôi việc như thế nào là đúng luật? Và khi thôi việc, người lao động có thể được nhận các khoản hỗ trợ nào?

Tranh chấp lao động

Trước tình hình chung khó khăn do đại dịch Covid-19 gây ra, nhiều doanh nghiệp đã phải thu hẹp hoạt động của mình hay thâm chí phải đóng cửa, ngừng sản xuất. Kéo theo hệ luỵ là nhiều người lao động bị thôi việc. Nếu không cẩn trọng trong quy trình xử lý thì rủi ro về tranh chấp lao động là khó tránh khỏi.

Theo quy định của Bộ luật Lao động 2019, doanh nghiệp có quyền cho người lao động thôi việc nếu bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 nếu đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc.

Khi doanh nghiệp cho người lao động thôi việc trong trường hợp này cần phải tuân thủ quy định của luật lao động về thời hạn báo trước, cụ thể như sau:

  • Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
  • Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
  • Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng.

Riêng đối với người lao động được thuê làm người quản lý của doanh nghiệp thì thời hạn báo trước được quy định như sau:

  • Ít nhất 120 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12 tháng trở lên;
  • Ít nhất bằng một phần tư thời hạn của hợp đồng lao động đối với hợp đồng lao động có thời hạn dưới 12 tháng.

Người lao động bị thôi việc do ảnh hưởng của dịch Covid-19 thì sẽ được nhận tiền trợ cấp thôi việc khi nghỉ việc và trợ cấp thất nghiệp trong thời gian chưa tìm được công việc mới nếu đủ điều kiện theo quy định.

Doanh nghiệp có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên. Mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương. Trong đó, thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp và thời gian làm việc đã được doanh nghiệp chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm sẽ không được tính. Mức lương tính trợ cấp là tiền lương bình quân của 06 tháng liền kề theo hợp đồng lao động trước khi người lao động thôi việc.

Người lao động bị thôi việc nếu có đủ thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định thì nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp cho trung tâm dịch vụ việc làm tại địa phương. Thời gian hưởng được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, nếu đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 03 tháng trợ cấp thất nghiệp. Sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 01 tháng TCTN nhưng tối đa không quá 12 tháng. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng liền kề trước khi thất nghiệp nhưng tối đa không quá 05 lần mức lương tối thiểu vùng.

Đó là những quy định cơ bản về trường hợp thôi việc do Covid-19. Tuy nhiên, để thực sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, doanh nghiệp và người lao động cần hiểu hơn các quy định của pháp luật lao động. Do đó, các bên có thể nhờ đến một công ty luật uy tín tư vấn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đặc biệt trong trường hợp phát sinh tranh chấp.

Luật sư Phí Thị Hiền (Thiên An)