Ủy quyền khi tham gia giải quyết tranh chấp dân sự tại tòa án

Theo quy định của pháp luật, một người có thể tự mình hoặc nhờ người khác đại diện tham gia quá trình giải quyết các vụ việc, tranh chấp dân sự tại tòa án. Việc “nhờ cậy” này theo ngôn ngữ pháp lý gọi là ủy quyền tham gia tố tụng.

Khi một người ủy quyền cho người khác, người được ủy quyền có thể đại diện cho họ thực hiện các công việc trong phạm vi được ủy quyền. Tuy nhiên, trên thực tế, việc ủy quyền nói trên vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, dẫn đến tình trạng mỗi nơi có một cách áp dụng, không thống nhất.

Ủy quyền khi tham giải quyết tranh chấp dân sự tại tòa án

Việc ủy quyền tham gia tố tụng có phải lập thành văn bản và công chứng?

Ngoại trừ Điều 272 quy định về ủy quyền thực hiện việc kháng cáo, không có điều khoản nào trong Bộ Luật tố tụng dân sự 2015 quy định trực tiếp việc ủy quyền tham gia tố tụng phải lập thành văn bản được công chứng, chứng thực. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 86 Bộ luật này lại quy định: “Người đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự theo nội dung văn bản ủy quyền”. Điều này đã quy định một cách gián tiếp việc ủy quyền tham gia tố tụng phải lập thành văn bản. Nhưng quy định nói trên cũng không đề cập việc văn bản ủy quyền phải công chứng, chứng thực.

Mặc dù vậy, trên thực tế, phần lớn các tòa đều yêu cầu người đại diện tham gia tố tụng xuất trình văn bản ủy quyền có công chứng, chứng thực.

Văn bản ủy quyền được lập theo giấy ủy quyền hay hợp đồng ủy quyền?

Kể từ ngày 20/04/2020, các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công chứng, chứng thực không được phép tiến hành chứng thực chữ ký trên “Giấy ủy quyền”  trong trường hợp ủy quyền tham gia tố tụng. Chi tiết hơn, Điều 14 Thông tư 01/2020/TT-BTP quy định chỉ được chứng thực trên Giấy ủy quyền trong 04 trường hợp:

  • Ủy quyền về việc nộp hộ, nhận hộ hồ sơ, giấy tờ, trừ trường hợp pháp luật quy định không được ủy quyền;
  • Ủy quyền nhận hộ lương hưu, bưu phẩm, trợ cấp, phụ cấp;
  • Ủy quyền nhờ trông nom nhà cửa;
  • Ủy quyền của thành viên hộ gia đình để vay vốn tại Ngân hàng chính sách xã hội.

 Các trường hợp giấy ủy quyền khác thì phải chuyển sang chứng thực hợp đồng, giao dịch. Điều đáng lưu ý là Thông tư 01/2020/TT-BTP là văn bản hướng dẫn Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Mà Nghị định số 23/2015/NĐ-CP cho phép chứng thực giấy ủy quyền tham gia tố tụng trong trường hợp không có thù lao, không có nghĩa vụ bồi thường của bên được ủy quyền và không liên quan đến việc chuyển quyền sở hữu tài sản, quyền sử dụng bất động sản.

Như vậy, Thông tư 01/2020/TT-BTP đã đi ngược với Nghị định 23/2015/NĐ-CP đồng thời còn làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự tham gia tố tụng. Trên thực tế, một số ít các tổ chức hành nghề công chứng căn cứ vào Nghị định 23/2015/NĐ-CP để công chứng, chứng thực giấy ủy quyền tham gia tố tụng nhưng số lượng không nhiều. Tâm lý sợ làm sai so với văn bản hướng dẫn của cơ quan quản lý đã dẫn đến việc không nhiều các tổ chức hành nghề công chứng dũng cảm bỏ qua Thông tư 01/2020/TT-BTP và thực hiện theo Nghị định 23/2015/NĐ-CP.

Nếu là tổ chức tham gia tố tụng thì văn bản ủy quyền chỉ cần có chữ ký của đại diện theo pháp luật và được đóng dấu. Đối với các pháp nhân hay nói cách khác là các công ty, tổ chức sẽ không gặp bất cứ khó khăn nào khi lập văn bản ủy quyền. Bởi con dấu do họ quản lý, và việc ký, đóng dấu trên văn bản nào là quyền tự do lựa chọn.

Điều này trái ngược hoàn toàn đối với cá nhân khi muốn lập văn bản ủy quyền. Các quy định trên đặt ra gần như chỉ được áp dụng đối với cá nhân ủy quyền tham gia tố tụng. Do đó, để thuận tiện, cá nhân chỉ còn cách lựa chọn hợp đồng ủy quyền để ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng.

Lý giải điều này, Tòa án cho rằng việc công chứng, chứng thực nhằm xác nhận đúng cá nhân đó thực hiện việc ủy quyền. Còn với pháp nhân, quan điểm của tòa án cho rằng pháp nhân đã sử dụng con dấu của mình đóng lên văn bản ủy quyền thì phải chịu trách nhiệm đối với văn bản ủy quyền đó. Có vẻ như nhận định này có phần chủ quan! Không có gì đảm bảo rằng văn bản ủy quyền do người đại diện hợp pháp ký và được đóng dấu là con đấu thật của pháp nhân. Hơn nữa, trong bối cảnh Luật doanh nghiệp 2020 đã bãi bỏ quy định về công bố mẫu dấu và trong tương lai có thể là sẽ loại bỏ luôn các quy định về đăng ký con dấu của doanh nghiệp thì việc xác định nói trên càng trở nên khó khăn.

Như vậy, cho đến khi có văn bản pháp luật khác điều chỉnh, để ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng tại tòa, cá nhân phải làm hợp đồng ủy quyền và phải công chứng, chứng thực tại tổ chức có thẩm quyền.

Hồ Huy Hoàng (Thiên An)